HOTLINE: 0909 854 850

SẢN PHẨM TỐT NHẤT - DỊCH VỤ TỐT NHẤT

United Kingdom | Vietnam

Tư vấn thừa kế có yếu tố nước ngoài

Tư vấn thừa kế có yếu tố nước ngoài

law-school1-1

Liên quan đến quyền thừa kế, đây là vấn đề khá phức tạp và rắc rối nếu các cá nhân không am hiểu rõ về các quy định của pháp luật về quền thừa kế và để xảy ra các tranh chấp không đáng có. Hiện nay có hai loại thừa kế đó là thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc. Ở đây DHLaw sẽ trình bày cho Quý khách hàng rõ hơn về vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài, một vấn đề mà đại đa số Quý khách hàng thường quan tâm và mong muốn được luật sư tư vấn.
Thừa kế là một trong những chế định trọng tâm của pháp luật dân sự, về nguyên tắc, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài cũng là một cấu thành của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

1. Thừa kế có yếu tố nước ngoài  theo pháp luật

Về vấn đề thừa kế theo pháp luật (người chết không để lại di chúc, di chúc không hợp pháp, không để lại di chúc với một phần tài sản hoặc di chúc không hợp pháp một phần), việc thừa kế theo pháp luật phải “tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết” (khoản 1 Điều 767). Như vậy, việc xác định người thừa kế, hàng thừa kế, thời điểm mở thừa kế, di sản thừa kế, quyền và nghĩa vụ của người thừa kế có yếu tố nước ngoài, người quản lý tài sản thừa kế được thực hiện theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết.
Quy định tại khoản 1 Điều 767 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng mở ra nhiều khả năng áp dụng pháp luật Việt Nam trong trường hợp người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài (chưa nhập quốc tịch nước ngoài). Với kiều bào Vịêt Nam đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài thì việc Bộ luật Dân sự năm 2005 lựa chọn hệ thuộc luật quốc tịch trong quan hệ thừa kế theo pháp luật là cần thiết và phù hợp, tạo ra nhiều cơ hội pháp luật Việt nam được dẫn chiếu áp dụng.

2. Về vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài đối với bất động sản

Trường hợp thừa kế có yếu tố nước ngoài với bất động sản, phù hợp với thông lệ quốc tế, khoản 2 Điều 767 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản.
Cần lưu ý rằng, quyền thừa kế gồm quyền để lại di sản thừa kế và quyền nhận thừa kế. Trong trường hợp di sản thừa kế là bất động sản thì việc người có quyền nhận thừa kế có được nhận hay không còn phụ thuộc vào pháp luật nước nơi có bất động sản. Có nước chấp nhận quyền sở hữu bất động sản của người nước ngoài nhưng có nước hạn chế chấp nhận. Có nước công nhận quyền sở hữu cá nhân đối với đất đai. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người thừa kế, thông thường, các nước theo chế độ sở hữu toàn dân (sở hữu nhà nước) đối với đất đai, hoặc chế độ hạn chế quyền sở hữu bất động sản của người nước ngoài có những quy định cho phép người nhận thừa kế hưởng giá trị của di sản. Pháp luật Việt Nam cho phép Việt kiều được mua nhà tại Việt Nam, sau khi họ chết, những người thừa kế nếu là người Việt Nam sinh sống tại Việt Nam, hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà tại Việt Nam sẽ được quyền sở hữu, đứng tên trong giấy chứng nhận nhưng nếu không phải là đối tượng được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam sẽ chỉ nhận giá trị của ngôi nhà đó (có quyền định đoạt, chuyển nhượng, có quyền bán để hưởng giá trị tài sản).

3. Thừa kế theo pháp luật mà di sản không có người thừa kế

Theo khoản 3 và khoản 4 Điều 767 Bộ luật Dân sự năm 2005 phân biệt hai trường hợp: đối với bất động sản thì thuộc về Nhà nước nơi có bất động sản; đối với động sản thì thuộc về Nhà nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch. Đây cũng là cách giải quyết trong các hiệp định tương trợ tư pháp mà chúng ta đã ký với các nước.
Với quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 767 Bộ luật Dân sự năm 2005, di sản không có người thừa kế có thể thuộc về Nhà nước Việt Nam (nếu người để lại động sản là công dân Việt Nam hoặc di sản là bất động sản ở Việt Nam). Trong quá trình nghiên cứu quy định về quyền tiếp nhận di sản không có người thừa kế của Nhà nước, nhiều ý kiến cho rằng, cần có sự thống nhất giữa các quốc gia về việc xác định rõ Nhà nước là người thừa kế như một hàng thừa kế hay là người chiếm hữu tài sản vô chủ, vấn đề này hết sức quan trọng liên quan đến thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại và liên quan đến nhà nước nào có quyền tiếp nhận. Vấn đề tư cách Nhà nước trong việc tiếp nhận di sản không có người thừa kế là vấn đề đang được tiếp tục nghiên cứu để chọn lựa phương án phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

 

Để được Luật sư tư vấn trực tiếp, Quý khách vui lòng liên hệ vào đường dây nóng 0909 854 850.
Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
Trân trọng./.